Nói tới hiệu lực là nói tới giá trị pháp lý được bảo đảm, có khả năng được thực thi và áp dụng. Như vậy, nói tới hiệu lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là nói tới giá trị pháp lý, tính chính đáng trong các quyết định, lãnh đạo cầm quyền của Đảng có khả năng được thực thi và áp dụng trong toàn Đảng vào những điều kiện, môi trường cụ thể.
Như chúng ta đều rõ, nói tới hiệu quả là nói tới mức độ hoàn thành công việc, đạt được mục tiêu với nguồn lực tối thiểu nhất, với cách thức thực hiện công việc tối ưu. Từ đây cho thấy, nói tới hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là nói tới các quyết định lãnh đạo, cầm quyền có giá trị pháp lý thống nhất trong toàn Đảng được thực hiện một cách tối ưu nhất với nguồn lực tối thiểu nhất. Nhưng để lãnh đạo, cầm quyền hiệu lực, hiệu quả thì các quyết định phải được dựa trên những căn cứ chính trị, pháp lý, khoa học, thực tiễn, có đạo lý.
Để bảo đảm các căn cứ chính trị, pháp lý thì các quyết định lãnh đạo, cầm quyền phải đúng đường lối chính trị của Đảng, không được xa rời, hay chệch hướng mục tiêu chính trị. Nghĩa là các quyết định lãnh đạo, cầm quyền phải bảo đảm đúng mục đích chính trị của Đảng là “xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản”[1].
Đồng thời, các quyết định lãnh đạo, cầm quyền không được trái với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nghĩa là thực hiện nghiêm Điều lệ Đảng: “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”[2]. Nếu các quyết định lãnh đạo, cầm quyền bằng và thông qua pháp luật thì tính chính danh, tính chính đáng của các quyết định này càng rõ ràng, công khai, minh bạch và càng có căn cứ pháp lý.
Các căn cứ thực tiễn của quyết định lãnh đạo, cầm quyền thể hiện ở chỗ các quyết định phải phù hợp quy luật khách quan, thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Các quyết định phải phản ánh được những vấn đề của thực tiễn cuộc sống, phản ánh đúng được lợi ích của nhân dân, của dân tộc; phù hợp xu thế phát triển của nhân loại. Nếu các quyết định lãnh đạo, cầm quyền xa rời thực tiễn Việt Nam không phản ánh đúng nhu cầu thực tiễn Việt Nam thì sẽ rơi vào giáo điều, sách vở, không có căn cứ thực tiễn để thực hiện.
Nếu các quyết định lãnh đạo, cầm quyền xa rời thực tiễn Việt Nam không phản ánh đúng nhu cầu thực tiễn Việt Nam thì sẽ rơi vào giáo điều, sách vở, không có căn cứ thực tiễn để thực hiện.
Các căn cứ khoa học của các quyết định lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thể hiện ở chỗ các quyết định này là kết quả của trí tuệ tập thể, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Mỗi quyết định lãnh đạo, cầm quyền phải thể hiện là sự kế thừa được tinh hoa văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại; là kết quả thảo luận dân chủ, công khai của tất cả các đảng viên; là sự đóng góp của quần chúng nhân dân - người thụ hưởng các quyết định lãnh đạo, cầm quyền này.
Căn cứ đạo lý ở đây xuất phát từ mục tiêu phục vụ nhân dân của Đảng ta. Bởi lẽ, “Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng”[3].
Đảng Cộng sản Việt Nam không có mục đích nào khác là phục vụ nhân dân Việt Nam. Do vậy, mọi chủ trương, đường lối, mọi quyết định lãnh đạo, cầm quyền đều vì nhân dân, phục vụ nhân dân, chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đây là mục tiêu, mục đích và cũng là căn cứ đạo lý của mọi quyết định lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta.
Không phải ngẫu nhiên mà Đảng ta rút ra bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu: “trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thật sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”[4].
Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Một là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả ra quyết định lãnh đạo, cầm quyền, nghĩa là các quyết định phải xác định đúng mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển của đất nước, phản ánh được quy luật vận động của thực tiễn chính trị, giải đáp được những yêu cầu thực tiễn đặt ra, thể hiện được nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của các tầng lớp nhân dân. Việc ra quyết định phải tranh thủ được sự đóng góp trí tuệ của đông đảo nhân dân, của các cơ quan nghiên cứu lý luận chính trị, của đội ngũ các nhà lý luận và hoạt động thực tiễn, cũng như của các chuyên gia. Các quyết định phải thể hiện tinh thần dân chủ, khoa học, gắn bó với thực tiễn và vì mục tiêu phục vụ nhân dân.
Thứ hai, nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực hiện các quyết định lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong cuộc sống. Trong điều kiện có chính quyền nhà nước, Đảng phải thông qua Nhà nước, lãnh đạo Nhà nước để tổ chức lực lượng, xác lập bộ máy, cơ chế, chính sách tổ chức thực hiện, đưa chủ trường, đường lối cũng như các quyết định lãnh đạo, cầm quyền của Đảng vào cuộc sống. Đồng thời, phải tuyên truyền, vận động, thuyết phục đông đảo nhân dân đồng lòng tổ chức thực hiện hiệu quả các quyết định của Đảng trong thực tế.
Thứ ba, nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm tra, giám sát của các cấp ủy, cơ quan Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên trong việc tổ chức thực hiện các quyết định lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Để thực hiện tốt chức năng kiểm tra này cần phát huy hiệu quả vai trò của nhân dân trong việc tham gia giám sát, phản biện các khâu trong tổ chức thực hiện, đưa các quyết định lãnh đạo, cầm quyền của Đảng vào cuộc sống.
Thứ tư, nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổng kết việc tổ chức thực hiện các quyết định lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong cuộc sống. Muốn vậy, phải phát huy được vai trò của các nhà lý luận, các nhà hoạt động thực tiễn cùng tham gia tổng kết thực tiễn. Những kết luận được rút ra từ tổng kết thực tiễn phải có tính khái quát cao, đóng góp vào phát triển lý luận, có ý nghĩa gợi mở, soi đường, chỉ đạo việc hoàn thiện việc ra các quyết định lãnh đạo, cầm quyền tiếp theo cũng như việc đưa các quyết định lãnh đạo, cầm quyền của Đảng vào cuộc sống.
Thứ năm, nâng cao hiệu quả vận dụng các bài học kinh nghiệm được đúc kết từ tổng kết thực tiễn vào tổ chức triển khai các quyết định lãnh đạo, cầm quyền của Đảng vào cuộc sống. Các bài học kinh nghiệm thực tiễn được đúc kết chỉ có ý nghĩa quý báu khi được vận dụng vào thực tiễn ra các quyết định lãnh đạo, cầm quyền tiếp theo. Nếu các bài học được tổng kết công phu, nghiêm túc mà không được vận dụng trong thực tiễn ra các quyết định lãnh đạo, cầm quyền tiếp theo thì cũng không có giá trị.
Để nâng cao hiệu quả vận dụng các bài học kinh nghiệm được rút ra từ tổng kết thực tiễn, cần chú ý so sánh, đối chiếu các bài học kinh nghiệm đã được đúc kết với thực tiễn cuộc sống. Trên cơ sở đó có các căn cứ đề xuất việc điều chỉnh mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển, chủ trương, đường lối cũng như điều chỉnh việc ra các quyết định lãnh đạo, cầm quyền và tổ chức thực hiện chúng. Việc tổng kết và vận dụng các bài học kinh nghiệm phải khách quan, lịch sử-cụ thể và gắn với nhu cầu thực tiễn.
Để thực hiện tốt các giải pháp nêu trên, toàn Đảng cần phải nâng cao trình độ tư duy lý luận, trau dồi, rèn luyện phương pháp tư duy biện chứng duy vật cho cán bộ, đảng viên và phẩm chất đạo đức. Bởi lẽ, cùng với đạo đức cách mạng thì các nguyên tắc khách quan, phát triển, lịch sử-cụ thể, thống nhất giữa lý luận với thực tiễn sẽ giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng có cơ sở, căn cứ để nâng cao hiệu lực, hiệu quả ra quyết định lãnh đạo, cầm quyền.
____________________________________
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua ngày 19 tháng 01 năm 2011). Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.4.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, tr.5.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, tr.5-6.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.1, tr.27-28.
