Thứ sáu 25/05/2018 02:48 Đăng nhập   | Liên hệ  | English English

Truyền thông chính sách trong các khâu của chu trình chính sách công

Thứ sáu 20/04/2018 14:11

Truyền thông chính sách đóng vai trò quan trọng đối với mỗi khâu của chu trình chính sách công. Sự tham gia của truyền thông chính sách một mặt đảm bảo cho sự thành công của chính sách, mặt khác giúp cho chính sách ngành một được hoàn thiện hơn. Mỗi khâu của chu trình đòi hỏi các chủ thể khác nhau tham gia. Sự tham gia của chủ thể chính sách bị ảnh hưởng bởi truyền thông chính sách. Các giai đoạn trong chu trình chính sách công là: Khâu hoạch định chính sách; Khâu xây dựng chính sách hình thành đề án chính sách; Khâu thực hiện chính sách công; Khâu đánh gia chính sách.


(Ảnh minh họa. Nguồn Internet)

1. Đặt vấn đề

Chính sách công được định nghĩa là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định (1). Trong đó, cách tiếp cận được thể hiện theo chu trình chính sách công mà theo đó, các quyết định về chính sách được thực hiện trong mỗi giai đoạn của chu trình này. Do vậy, nghiên cứu về chính sách công đồng nghĩa với nghiên cứu các quyết định trong mỗi giai đoạn chính sách.

Nghiên cứu về lý luận và thực tiễn chu trình chính sách công cho thấy, chu trình chính sách có thể khái quát lại gồm 04 khâu: hoạch định – xây dựng – thực hiện – đánh giá chính sách. Chu trình chính sách công là công nghệ chính sách có thể phù hợp và có hiệu lực trong các thể chế chính trị khác nhau. Tuy nhiên, công nghệ chính sách không có nghĩa là bỏ qua các yếu tố quan trọng của chính sách công, đó là mối quan hệ nhân quả giữa nguyên nhân và vấn đề chính sách. Chu trình chính sách làm rõ mối quan hệ phương tiện – mục đích giữa giải pháp chính sách và mục tiêu chính sách, sự tham gia của các chủ thể chính sách, năng lực chủ thể chính sách vv.

Mỗi khâu của chu trình đòi hỏi các chủ thể khác nhau tham gia. Sự tham gia của các chủ thể chính sách bị ảnh hưởng bởi truyền thông chính sách. Truyền thông chính sách bao gồm nội dung thông tin, phương tiện truyền thông, phương pháp truyền thông, tần suất truyền thông, các yếu tố của quá trình truyền thông. Đây đều là những biến số quyết định đến chất lượng truyền thông chính sách.

Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng bằng một hệ thống ký hiệu, quy ước nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức. Truyền thông là một kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các qui tắc và tín hiệu chung. Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận. Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi và người nhận. Truyền thông có gốc từ tiếng Latinh là “communicare”, nghĩa là biến nó thành thông thường, chia sẻ, truyền tải. Truyền thông thường được mô tả như việc truyền ý nghĩ, thông tin, ý tưởng, ý kiến hoặc kiến thức từ một người/một nhóm người sang một người/hoặc một nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc tín hiệu. Về thực chất, đó chính là quá trình trao đổi, tương tác thông tin với nhau về các vấn đề của đời sống cá nhân/nhóm/xã hội, từ đó tăng vốn hiểu biết chung, hình thành hoặc thay đổi nhận thức, thái độ, chuyển đổi hành vi cá nhân/nhóm/xã hội. Bản thân chính sách công rất phức tạp từ hệ thống đến sự tham gia của các chủ thể chính sách. Do đó, cần làm rõ mối quan hệ truyền thông và chính sách công.

Tiếp theo mỗi khâu của chu trình chính sách, mức độ tham gia nội dung truyền thông, phương tiện truyền thông, phương pháp truyền thông, tần suất truyền thông, các yếu tố của quá trình truyền thông được thực hiện như thế nào là một câu hỏi cần nghiên cứu đầy đủ.

2. Truyền thông chính sách trong mỗi khâu của chu trình chính sách

Chúng ta cần có một khái niệm tạm thời về truyền thông chính sách. Có thể tạm định nghĩa như sau: “Truyền thông chính sách là quá trình chia sẻ, tương tác xã hội để thông tin chính sách từ chủ thể hoạch định, xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách đến các chủ thể chính sách khác nhằm tăng cường sự hiểu biết, nhận thức và thay đổi hành vi của các chủ thể chính sách để đạt mục tiêu chính sách”.

Từ đó, xem xét các biến số về nội dung truyền thông, phương tiện truyền thông, phương pháp truyền thông, tần suất truyền thông, các yếu tố của quá trình truyền thông ảnh hưởng như thế nào đến mỗi khâu của chu trình chính sách.

Các giai đoạn trong chu trình chính sách công là:

Khâu hoạch định chính sách. Khâu này là giai đoạn cần xác định đúng và trúng vấn đề chính sách. Hệ thống chính trị hoạch định chính sách trong đó có sự tham gia quyết định bởi Đảng. Vai trò của Nhà nước là nghiên cứu, tham mưu đề xuất những vấn đề chính sách. Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội tham gia đánh giá và phản biện chính sách. Khâu này gồm các công việc: thu thập thông tin, xác định vấn đề và lựa chọn vấn đề kinh tế xã hội trở thành vấn đề chính sách. Xác định vấn đề là dựa trên những mâu thuẫn thực tế từ đời sống để xác định vấn đề chính sách. Vấn đề cần phải được phân tích cẩn thận để xác định đâu là vấn đề cốt lõi, đâu là giải pháp cốt lõi để đảm bảo tính phổ biến, tính bản chất của chính sách. Đề xuất các lựa chọn chính sách dựa trên phân tích vấn đề. Ước tính rủi ro, hiệu quả: Xem xét cấu trúc vấn đề chính sách trong mối quan hệ biện chứng với các vấn đề kinh tế xã hội khác, bước đầu đánh giá và dự báo tác động  của chính sách.

Các bước tiến hành như sau: Bước 1: Giai đoạn xác định vấn đề xã hội; Bước 2: Đưa vấn đề xã hội vào chương trình nghị sự. Bước này rất cần có sự tham gia của khu vực nhà nước, khu vực dân sự, truyền thông. Cần có sự khác biệt về mức độ tham gia của khu vực dân sự và truyền thông tại các nền dân chủ. Nhóm lợi ích trở thành tâm điểm nghiên cứu trong mối quan hệ với khu vực quyền lực và truyền thông;

Nội dung truyền thông trong giai đoạn này tốt nhất là phổ biến kiến thức và vấn đề chính sách. Nội dung về thực trạng vấn đề chính sách với những mẫu thuẫn, những khó khăn những trở ngại mà chính sách gây nên. Truyền thông cần làm rõ nguyên nhân mức độ của vấn đề chính sách. Hơn nữa, nội dung truyền thông khâu này cần rõ hậu quả có thể có nếu không giải quyết vấn đề chính sách.

Phương tiện truyền thông tốt nhất là các phương tiện truyền thông đại chúng. Thông tin là chức năng cơ bản nhất của truyền thông đại chúng bởi truyền thông đại chúng ra đời và phát triển là nhằm thoả mãn ngày càng cao nhu cầu thông tin của con người và xã hội. Thông tin là nhu cầu sống còn, nhu cầu phát triển của con người và xã hội và khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu thông tin càng cao. Khi xã hội càng phức tạp, kinh tế thị trường càng phát triển thì tính chất thông tin cũng ngày càng đa dạng và phức tạp. Số lượng, chất lượng và tính chất các sản phẩm truyền thông phản ánh chính sách còn hạn chế. Việc để thực hiện chức năng thông tin truyền thông chính sách trên các kênh truyền thông đại chúng đạt hiệu quả cao, thì thông tin về vấn đề chính sách phải đầy đủ, nhanh chóng, hợp thời, phong phú, đa dạng, trung thực; thông tin phải phù hợp với các quy tắc xã hội, các giá trị văn hoá và đạo lý của dân tộc; phù hợp với phát triển và phục vụ sự phát triển; thông tin cần phải phục vụ tiến trình phát triển kinh tế - xã hội.

Phương thức truyền thông hướng vào giúp các chủ thể nhận thức vấn đề chính sách, quy mô và tình trạng vấn đề, nguyên nhân của vấn đề chính sách để có quyết định phù hợp tạo sự đồng thuận xã hội trong giai đoạn hoạch định chính sách. Khi Đảng ra quyết định, chính sách sẽ nhận được sự đồng thuận cao của xã hội, tạo điều kiện cho lãnh đạo thực hiện chính sách.

Khâu xây dựng chính sách hình thành đề án chính sách. Việc phân tích chính sách đã được hoạch định, dựa trên lựa chọn phân tích chính sách mà tiến hành soạn thảo văn bản chính sách. Quá trình này đòi hỏi cần phải tham vấn ý kiến của các bên tham gia chính sách, đặc biệt là đối tượng thụ hưởng trực tiếp và gián tiếp của chính sách. Từ đó tiến hành quá trình trình duyệt ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Do đó rất cần sự tham gia của truyền thông về kết quả phân tích chính sách. Nhất là về các giải pháp công cụ chính sách dự kiến sẽ được lựa chọn. Hơn nữa, tốt nhất truyền thông về các phương án chính sách để người dân thấy được sự lựa chọn của họ đối với những vấn đề chính sách đặt ra.

Các cơ quan trình duyệt và ban hành chính sách pháp luật khác nhau tùy theo hệ thống chính trị và tổ chức Nhà nước của mỗi nước. Do đó, nội dung và phương thức truyền thông chính sách có thể khác nhau.

Chính sách công chủ yếu do cơ quan quyền lực lập pháp và hành pháp ban hành. Các bộ, ngành và chính quyền địa phương - bên cạnh việc triển khai thực hiện chính sách, còn ban hành những chính sách đặc thù cho ngành lĩnh vực, địa phương. Nguyên tắc ban hành chính sách, pháp luật là dựa trên nguyên tắc chính trị của pháp luật và nguyên tắc rút ra từ trạng thái của hệ thống chính trị trong xã hội; nguyên tắc tự do và công bằng; các nguyên tắc dân chủ; nguyên tắc bình đẳng; nguyên tắc bảo đảm tính hiện thực của chính sách pháp luật. Nội dung và phương thức truyền thông bắt đầu làm rõ các hành vi và mục tiêu của mỗi giải pháp chính sách. Quá trình thực hiện chức năng thông tin này cũng đồng thời là quá trình cung cấp kiến thức về chính sách trong cộng đồng xã hội, khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Đó là quá trình cung cấp kiến thức, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ dân trí và góp phần cải thiện diện mạo văn hóa cộng đồng. Kiến thức, hiểu biết tạo tiền đề cho hoạt động giáo dục tư tưởng và cổ vũ hành động thực hiện chính sách sau này. Chỉ có trên cơ sở hệ kiến thức đa dạng, phong phú, nhiều chiều trên cả bề rộng lẫn chiều sâu, con người mới có thể có được nhận thức tư tưởng đúng đắn, khoa học, phù hợp với yêu cầu thực hiện chính sách. Đây là tác dụng của truyền thông chính sách trong giai đoạn này. Phương thức truyền thông trong giai đoạn này tập trung vào truyền thông - vận động xã hội nhận thức về chính sách để lựa chọn, dẫn đến sự đồng thuận rộng lớn cho thực hiện chính sách.

Ở Việt Nam, tuyên truyền có thể được hiểu là truyền bá đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, làm cho nó thâm nhập và chiếm lĩnh trong nhận thức, thái độ và hành vi của các tầng lớp nhân dân. Vận động chính sách là mức độ cao hơn là tư tưởng mà tư tưởng là lĩnh vực rất khó nắm bắt, dễ biến động và liên hệ mật thiết với thực tiễn kinh tế - xã hội. Muốn tuyên truyền tư tưởng và gây dựng niềm tin cho người dân hiểu biết chính sách, trước hết phải thiết kế được chính sách tốt hợp lý giải quyết tốt những vấn đề kinh tế - xã hội, thúc đẩy sự phát triển bền vững và chống tiêu cực, tham nhũng, làm trong sạch bộ máy công quyền, thông qua đó truyền thông và vận động thực hiện chính sách sẽ giúp gây dựng niềm tin của người dân vào Đảng và Nhà nước.

Việc xây dựng chính sách bao gồm cả thông tin - truyền thông để đảm bảo nội dung về chính sách được minh bạch và đến với tất cả các đối tượng liên quan. Các nước phát triển hiện nay thường mình bạch thông tin chính sách trên trang Web và các cơ quan chịu trách nhiệm xây dựng chính sách. Đối với các nước thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), thông tin chính sách phải được công bố 60 ngày trước khi chính thức ban hành.

Khâu này lưu ý truyền thông về giải pháp chính sách bao gồm: mục tiêu, các nguồn lực, phương pháp thực hiện, công cụ chính sách, phân tích các bên đối tượng lợi ích và tác động.

Khâu thực hiện chính sách công đó là các quyết định đưa chính sách vào thực tế, đó là các quyết định về thực hiện chính sách từ việc lập kế hoạch, về các nguồn lực, về các bên tham gia. Việc thực hiện chính sách cần có sự hỗ trợ thực hiện như hỗ trợ kỹ thuật, tăng cường năng lực để thực hiện chính sách cũng như việc hướng dẫn thực hiện đối với các chính sách mới. 

Nội dung truyền thông trong giai đoạn này tập trung vào giám sát thực hiện chính sách, đây là một trong những chức năng quan trọng hàng đầu của truyền thông đại chúng. Bên cạnh đó, nội dung truyền thông giúp tăng cường phản biện xã hội làm rõ phương thức thể hiện, huy động nguồn lực trí tuệ và cảm xúc của đông đảo nhân dân vào việc góp ý kiến hoàn thiện các chủ trương, quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước, trong quá trình giải quyết các vấn đề lớn, liên quan đến sự phát triển của cộng đồng. Nghị quyết Trung ương 6 (lần hai) khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định, báo chí và truyền thông đại chúng là một trong bốn hệ thống giám sát xã hội. Nhận thức của Đảng về vai trò xã hội của báo chí và truyền thông đại chúng đối với vai trò của truyền thông trong thực hiện chính sách đã rõ.

Giám sát thực hiện chính sách của báo chí, truyền thông đại chúng là giám sát chủ yếu bằng tai mắt của nhân dân, giám sát bằng dư luận xã hội. Đó là quá trình giám sát mọi nơi, mọi lúc đối với việc thực hiện chính sách tránh tham nhũng trong thực hiện chính sách. Chức năng giám sát xã hội của báo chí, truyền thông đại chúng trong quá trình thực hiện chính sách là để giúp chỉ ra những nơi làm đúng, làm hay để biểu dương khích lệ và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; đồng thời cũng kịp thời phát hiện những nơi thực hiện chính sách chưa đúng hoặc những nơi làm dở, làm sai, những nơi vi phạm thực hiện chính sách và luật pháp để đấu tranh. Vai trò và sức mạnh giám sát chính sách của truyền thông đại chúng trước hết là xã hội hóa những việc tốt và những sai phạm của tổ các chức hoặc cá nhân nào đó để khơi nguồn và định hướng dư luận xã hội theo hướng ủng hộ hoặc chỉ trích, tạo áp lực dư luận và buộc các cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện chính sách phải giải quyết, giải thích và giải đáp trước nhân dân, trước công luận.

Bản thân chính sách công không bảo đảm có hiệu lực hành động thực hiện chính sách công mà còn cần các quyết định thực hiện chính sách. Do đó, giai đoạn này đòi hỏi sự tham gia của cơ quan truyền thông để thúc đẩy thực hiện chính sách. Phương thức truyền thông là vận động thay đổi hành vi là phù hợp, vận động các tổ chức công tham gia vào thực hiện chính sách công, vận động người dân và doanh nghiệp thực hiện chính sách. Thông tin truyền thông thực hiện chính sách là một quá trình lý tưởng của việc triển khai chính sách sẽ bao gồm các yếu tố cốt lõi: Thông số kỹ thuật chi tiết của chính sách công (tức là, làm thế nào mà các tổ chức công thực hiện chính sách công; việc thực hiện chính sách công nên được hiểu như thế nào); Phân bổ nguồn lực (tức là, ngân sách phân phối như thế nào? Tổ chức nhân sự thế nào để thực hiện chính sách công? Đơn vị nào của tổ chức công sẽ chịu trách nhiệm thực hiện chính sách công); Quyết định (ví dụ, làm thế nào quyết định các trường hợp cụ thể sẽ được thực hiện).

Khâu đánh giá chính sách. Các quyết định về đánh giá chính sách sau khi chính sách được thực hiện, cơ quan hành pháp chịu trách nhiệm giám sát chính sách, tổ chức điều tra khách quan đối với kết quả chính sách, cụ thể là cho đối tượng hưởng lợi và các đối tượng chịu tác động trực tiếp từ chính sách và đánh giá kết quả thực hiện chính sách. Quá trình thực hiện chức năng truyền thông trước hết là thông tin về kết quả thực hiện chính sách, từ việc đánh giá chính sách, cũng đồng thời là quá trình cung cấp kiến thức, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm trong cộng đồng xã hội, khu vực và trên phạm vi toàn cầu về một chính sách nào đó. Truyền thông với nội dung là kết quả quá trình chính sách là quá trình cung cấp kiến thức, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ dân trí và góp phần cải thiện sự hiểu biết của người dân và cộng đồng về kết quả thực hiện chính sách. Kiến thức, hiểu biết tạo tiền đề cho hoạt động hành động sửa đổi, bổ sung chính sách sao cho phù hợp hơn bởi vì chỉ có trên cơ sở kiến thức đa dạng, phong phú, nhiều chiều trên cả bề rộng lẫn chiều sâu, con người mới có thể có được nhận thức tư tưởng đúng đắn, khoa học cho chính sách mới.

Chính sách công rất cần những đánh giá độc lập chính sách sau khi thực hiện. Chỉ khi truyền thông vào cuộc, thì kết quả đánh giá chính sách mới được đơn vị đánh giá chính sách độc lập cung cấp. Qua truyền thông đại chúng, các thông tin đánh giá độc lập kết quả chính sách được người dân đón nhận và hưởng ứng.

Bên cạnh đó, thông tin truyền thông chính sách trong giai đoạn này cần làm rõ vấn đề chính sách ban đầu được xem xét đã giải quyết tận gốc chưa. Nếu chưa được thì cần điều chỉnh lại từ khâu xác định vấn đề và giải pháp chính sách. Thông tin truyền thông giúp có thể góp phần bổ sung, sửa đổi chính sách hoặc kết thúc chính sách.

Như vậy, chính sách có tính chu trình cho đến khi vấn đề được xử lý xong. Truyền thông giúp đánh giá chính sách phải trả lời được các câu hỏi đối với công chúng về: Kết quả của chính sách công được đánh giá có đạt được không? Đánh giá các mục tiêu chính sách công đạt được, tác động của chính sách công, kể cả những tác động không mong đợi? Việc đánh giá không có nghĩa là kết thúc chính sách công mà nhằm sửa đổi hoàn thiện, chuẩn bị cho chính sách công mới.

3. Kết luận     

Truyền thông chính sách đóng vai trò quan trọng đối với mỗi khâu của chu trình chính sách công. Sự tham gia của truyền thông chính sách một mặt đảm bảo cho sự thành công của chính sách, mặt khác giúp cho chính sách ngày một được hoàn thiện hơn.

Khâu hoạch định chính sách, truyền thông chính sách giúp xác định được đúng và trúng vấn đề chính sách, bảo đảm sự đồng thuận xã hội. Khâu xây dựng chính sách giúp quá trình lựa chọn giải pháp công cụ chính sách phù hợp. Khâu thực hiện chính sách giúp cho giám sát chính sách công được thực hiện với sự tham gia của cả xã hội. Khâu đánh giá truyền thông chính sách giúp làm rõ được kết quả chính sách, đồng thời tuyên truyền cho kết quả chính sách, giúp sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách.

(1). Từ điển Tạp chí Lý luận Chính trị, số 3.2014.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Đinh Dũng Sỹ (2008). “Chính sách và mối quan hệ giữa chính sách với pháp luật trong hoạt động lập pháp”. Vụ Pháp luật – VPCP, 2008.

2. Đỗ Phú Hải (2012). “Những vấn đề cơ bản của chính sách công”. Học viện KHXH – Giáo trình.

3. Đỗ Phú Hải (2012). “Chu trình chính sách công: Vấn đề lý luận và thực hiện”. Đề tài cấp cơ sở Học Viện KHXH, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.

4. Đỗ Phú Hải (2013). “Đánh giá chính sách công tại Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn”. Đề tài cấp cơ sở Học Viện KHXH, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.

5. Bộ Tư pháp Đề tài khoa học cấp Bộ “Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam”)

6. Chiến lực truyền thông chương trình SEMLA, Vụ Pháp chế, Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2009

ĐỖ PHÚ HẢI

(Theo Tạp chí Lý luận chính trị và Truyên thông tháng 3/2018)



Học viện Báo chí & Tuyên truyền