Thứ ba 19/09/2017 18:38 Đăng nhập   | Liên hệ  | English English

Phát huy những giá trị lịch sử của Cách mạng Tháng Tám-1945 trong công cuộc đổi mới toàn diện và đẩy mạnh hội nhập quốc tế

Thứ tư 06/09/2017 15:19

Website AJC trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết "Phát huy những giá trị lịch sử của Cách mạng Tháng Tám-1945 trong công cuộc đổi mới toàn diện và đẩy mạnh hội nhập quốc tế" của GS,TS Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 

Cách đây 72 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã làm nên một kỳ tích đầu tiên của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX: tiến hành thành công Cách mạng Tháng Tám-1945, lật đổ ách thống trị tàn bạo của phát xít Nhật, xóa bỏ chế độ quân chủ lỗi thời, giành quyền độc lập dân tộc, thành lập Nhà nước cộng hòa dân chủ, khôi phục nền thống nhất quốc gia, đưa dân tộc dân tộc Việt Nam phát triển theo con đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên CNXH.

Là hiện thân của xu thế giải phóng và phát triển của dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng do lãnh tụ Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân lựa chọn, Cách mạng Tháng Tám 1945 đã dệt nên những trang vàng của lịch sử dân tộc và trải qua  hơn 7 thập kỷ, những giá trị lịch sử ấy đã được kiểm nghiệm bằng những thắng lợi vĩ đại, tạo nên những bước ngoặt căn bản cho dân tộc ta, ngày càng khẳng định vị thế của Việt Nam trên chính trường quốc tế.  

Cách mạng Tháng Tám-1945 đập tan gông xiềng nô dịch dân tộc, giải phóng các giai cấp, các tầng lớp nhân dân khỏi ách nô lệ, cứu giống nòi Việt Nam khỏi hiểm họa tàn lụi vì đói khổ, vì sự đầu độc và chính sách ngu dân của chủ nghĩa thực dân, phát xít. Cũng từ thắng lợi đó, chế độ cộng hòa dân chủ thiết lập trên đất nước ta từ ngày 2-9-1945, quốc hiệu Việt Nam được khôi phục; những giá trị văn hóa cao đẹp của nước Việt Nam giàu truyền thống văn hiến được giành lại, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam phát triển lên tầm cao mới, dồi dào xung lực chiến đấu và chiến thắng.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám-1945 là minh chứng sinh động cho sức mạnh vĩ đại của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam do Đảng và Hồ Chí Minh lãnh đạo, tạo nên sức bật mạnh mẽ cho dân tộc Việt Nam giành tiếp những thắng lợi mới, viết tiếp những trang sử mới hào hùng và oanh liệt trong 30 năm đấu tranh chống các thế lực ngoại xâm, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong sự nghiệp đổi mới.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám-1945, Đảng Cộng sản Việt Nam – đã lãnh đạo sự nghiệp vẻ vang đó - được nhân dân Việt Nam thừa nhận là Đảng cầm quyền. Sứ mệnh đó của Đảng vừa là hệ quả của chặng đường lãnh đạo đấu tranh cách mạng chống ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, phát xít, giành chính quyền về tay nhân dân vừa là yêu cầu thực hiện mục tiêu của con đường cách mạng vô sản: tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên CNXH. Tính tất yếu khách quan đó càng khẳng định vai trò và trách nhiệm cầm quyền của Đảng trong bảo vệ và phát huy những thành quả của Cách mạng Tháng Tám, trong tạo dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ và phồn vinh.

Cách mạng Tháng Tám-1945 xác lập và nâng cao vị trí quốc tế của dân tộc Việt Nam trong hàng ngũ các dân tộc tiên phong trên thế giới đấu tranh phá bỏ nô dịch dân tộc, xây dựng nền độc lập bền vững gắn kết chặt chẽ với tự do, dân chủ và hạnh phúc của nhân dân, với bình đẳng và tiến bộ xã hội.

Thắng lợi vĩ đại này đã phá tung một mắt xích quan trọng và thúc đẩy sự tan rã không thể cứu vãn nổi của hệ thống thuộc địa; mở đầu quá trình sụp đổ của chế độ thực dân cũ tàn bạo; cổ vũ nhân dân các dân tộc thuộc địa đấu tranh tự giải phóng, giành độc lập, tự do bằng chính sức mạnh quật khởi tự thân. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa góp phần gia tăng sức mạnh của lực lượng hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội trong cuộc đấu tranh ngăn chặn chiến tranh, bảo vệ hòa bình, chống các thế lực phản động và xâm lược.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám-1945 là minh chứng hùng hồn về sức sống kỳ diệu của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc. Con đường dẫn tới thành công của Cách mạng Tháng Tám chính là con đường cách mạng triệt để, hướng tới tự do, hạnh phúc, công bằng và văn minh mà Hồ Chí Minh đã vạch ra trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn Việt Nam. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám-1945 đã hiện thực hóa một cách rạng rỡ tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh và khẳng định giá trị cao cả của tư tưởng đó.

Cách mạng Tháng Tám-1945 và sự ra đời nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa để lại những nguồn lực, những di sản về lý luận, bài học, kinh nghiệm vô cùng quý giá chứa đựng nhiều giải pháp đã được Đảng và nhân dân ta vận dụng giải quyết nhiều vấn đề, nhiều tình huống phức tạp về chính trị, quân sự, ngoại giao… trong sự nghiệp chống ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Tình hình thực tiễn và yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới càng đòi hỏi Đảng và nhân dân chắt lọc, kế thừa và phát huy cao độnhững giá trị lịch sử của Cách mạng Tháng Tám-1945.

Đó là bài học trong mọi hoàn cảnh, luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Gắn kết giữa độc lập dân tộc và CNXH đã tạo nên nguồn gốc sức mạnh đưa đến thành công rực rỡ của Cách mạng Tháng Tám-1945. Công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc kể từ khi đất nước đối đầu với họa xâm lăng của chủ nghĩa thực dân, kéo dài từ cuối thế kỷ XIX  đầu thế kỷ XX đã chứng kiến sự thất bại của nhiều phong trào yêu nước Việt Nam hoặc theo ý thức hệ phong kiến, hoặc theo ý thức hệ dân chủ tư sản. Nguyên nhân sâu xa dẫn đến thất bại của các phòng trào yêu nước với nhiều sắc thái là thiếu một học thuyết cách mạng-khoa học dẫn đường, không giải quyết một cách đúng đắn và xác đáng mối quan hệ chủ quyền quốc gia và lợi ích của nhân dân, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội, giữa mục tiêu trước mắt và định hướng phát triển phù hợp với dòng chảy của lịch sử nhân loại và đặc điểm Việt Nam. Ngay khi ra đời (1930), Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác lập Cương lĩnh chính trị, trong đó nêu rõ mục tiêu đấu tranh của cách mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc để đi tới xã hội cộng sản. Cương lĩnh đã bao quát được nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc với những giá trị đích thực của độc lập dân tộc và phương hướng tiến lên của dân tộc, giải quyết được yêu cầu phát triển của dân tộc và của xã hội Việt Nam. Chính đường hướng đó đã được vận dụng và thể nghiệm trong thực tiễn Việt Nam suốt 15 năm đấu tranh không ngừng nghỉ và đưa đến kết quả tất yếu là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX: Cách mạng Tháng Tám-1945, nước Việt Nam hiện đại ra đời.  Ngày 2-9-1945 trở thành mốc son khẳng định xu thế phát triển của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới, từ đây những tiềm năng to lớn được giải phóng đưa đất nước vươn tới những đỉnh cao mới trên con đường xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, hướng tới CNXH. Cách mạng Tháng Tám-1945, do đó, đã thực hiện đồng thời 3 chức năng mang tính thời đại của cuộc cách mạng vô sản ở một nước thuộc địa là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp-giải phóng xã hội và giải phóng con người, trong đó, giải phóng dân tộc đóng vai trò làm cơ sở, làm điều kiện tiên quyết cho các nhiệm vụ còn lại.

72 năm sau kể từ khi diễn ra thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, dân tộc Việt Nam đang tiến bước trên hành trình hướng tới hệ mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Qua 30 năm đổi mới, “đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”1; đồng thời, phải đối diện nhiều vấn đề lớn, phức tạp, phải giải quyết nhiều hạn chế, yếu kém để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Công cuộc đổi mới càng mạnh mẽ càng đặt ra yêu cầu khách quan phải kiên định và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH vì đó là lý tưởng, mục tiêu và là nguồn gốc sức mạnh của cách mạng và dân tộc Việt Nam đã được kiểm nghiệm từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám-1945, từ thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã đúc kết bài học kinh nghiệm lớn cũng đồng thời là nguyên tắc bao trùm của công cuộc đổi mới.: “nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội-ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau”.

Đó là bài học củng cố và tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc kết tụ trong Mặt trận dân tộc thống nhất do liên minh công, nông, trí thức làm nòng cốt, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong quá trình lãnh đạo cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc, trên cơ sở quán triệt sâu sắc nguyên lý cách mạng là sự nghiệp của quần chúng của chủ nghĩa Mác-Lênin, thấu hiểu những giá trị đặc trưng của văn hóa Việt Nam, đánh giá đúng đắn năng lực và thái độ tích cực của các giai cấp, các tầng lớp xã hội đối với sự nghiệp chống đế quốc, giành quyền độc lập dân tộc và xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, Đảng chủ trương thống nhất và huy động tối đa sức mạnh toàn dân tộc vào cuộc đấu tranh giành độc lập. HNTƯ 8 của Đảng (5-1941) đề ra quyết sách tập hợp lực lượng toàn dân dưới một hiệu cờ thống nhất tất cả các tầng lớp, các giai cấp, các đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo, có tinh thần chống Pháp-Nhật, giành lại độc lập cho nước nhà vào một mặt trận “có tính chất dân tộc” là Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh). Dưới ngọn cờ cứu quốc của Mặt trận Việt Minh, sức mạnh quật cường, tinh thần sáng tạo của nhân dân được nhân lên gấp bội. Quần chúng nhân dân được tổ chức thành các đoàn thể cứu quốc: tổ chức những đạo quân chính trị và vũ trang tại khắp mọi miền của đất nước; được huy động vào trận tuyến đấu tranh trên quy mô cả nước và từng địa phương, theo yêu cầu của từng giai đoạn trong tiến trình cách mạng và đạt tới hiệu quả cao nhất. Càng tiến gần tới cuộc Tổng khởi nghĩa, Mặt trận dân tộc thống nhất càng mở rộng, thu nạp thêm nhiều tổ chức yêu nước, thu hẹp lực lượng chống đối và tầng lớp trung gian, tạo nên một lực lượng hùng mạnh. Khối đoàn kết, thống nhất lực lượng toàn dân tộc cũng là một cơ sở để cách mạng Việt Nam tăng cường đoàn kết quốc tế, gắn kết cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam với lực lượng chống chủ nghĩa phát xít trên thế giới. Đúng như nhận định của Hồ Chí Minh trong thư gửi đồng bào, ngày 6-6-1941, “muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần Toàn dân đoàn kết”2,  với sức mạnh của toàn dân tộc được tổ chức, ngay khi thời cơ thuận lợi xuất hiện, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, toàn dân nhất tề nổi dậy làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám-1945. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám-1945 chính là thắng lợi của sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc thành một khối vững chắc, kiên quyết đấu tranh giành độc lập, tự do.

Xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc được Đảng xác định là quy luật giành thắng lợi của dân tộc Việt Nam, của cách mạng Việt Nam, là nhân tố bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp đổi mới.Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã xác định một bài học vô giá của cách mạng Việt Nam, đó là: “không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết-Thành công, thành công, đại thành công”. Đại hội XII (2016) của Đảng cũng khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”3.

Để tạo động lực và bảo đảm phát huy cao độ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng đã nhất quán và triệt để quan điểm: sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; chủ trương phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân, động viên, khơi gợi ý thức, tình cảm dân tộc trong sáng, lòng yêu nước chân chính của nhân dân và tạo điều kiện cho nhân dân trong nước và đồng bào định cư ở nước ngoài phát huy lòng yêu nước, đồng tâm hiệp lực cống hiến sức lực và tài năng phụng sự Tổ quốc, gắn những lợi ích và quyền lợi của các tầng lớp nhân dân với vận mệnh và lợi ích dân tộc; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia-dân tộc; giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm mỗi người dân đều được thụ hưởng bình đẳng những thành quả của công cuộc đổi mới….

Đó là bài học về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế trên tinh thần chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường. Gắn kết phong trào cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới là một yêu cầu khách quan trong cuộc đấu tranh chống chống ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân Pháp. Từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là một bộ phận tích cực của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Trong quá trình chuẩn bị mọi nguồn lực để tiến hành Cách mạng Tháng Tám-1945, Đảng xác định đứng hẳn về phe đồng minh trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít. Nhờ đó, công cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam đã được nhân dân các nước và nhiều lực lượng trên thế giới ủng hộ. Sự xuất hiện của đội quân chiến đấu Việt-Mỹ ở Việt Bắc trong những ngày sục sôi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những biểu hiện của sự kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít. Cũng trên cơ sở đó, mà khi phe Đông minh tấn công tiêu diệt phát xít Nhật, Đảng và Mặt trận Việt Minh đã chớp thời cơ phát động nhân dân toàn quốc nổi dậy Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát đi thông điệp với thế giới: một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít, dân tộc đó có quyền được hưởng tự do, độc lập.  Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ sức mạnh quốc tế để giải quyết nhiệm vụ trong nước là một thực tế lịch sử, là một nguyên nhân dẫn đến thành công của Cách mạng Tháng Tám-1945, song, có một thực tế lịch sử sống động hơn, một nhân tố đóng vai trò quyết định đó là sự chủ động, tự lực, tự cường của Đảng và nhân dân ta được kết tinh trong luận điểm nổi tiếng của Hồ Chí Minh “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”4, được áp dụng và thực thi triệt để trong Cách mạng Tháng Tám. Đó là sự chủ động và sáng tạo về chính trị, về xác định và hoàn thiện đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc, vượt qua những giáo điều về nhìn nhận vấn đề dân tộc và lực lượng cách mạng; là sự chủ động về phương thức chuẩn bị thực lực và tiến hành Tổng khởi nghĩa; là sự chủ động trong nắm bắt và tận dụng triệt để thời cơ,… Cách mạng Tháng Tám-1945 là một mẫu mực về tranh thủ sức mạnh quốc tế dựa trên tinh thần chủ động, sáng tạo, sức mạnh tự lực, tự cường.

Trong bối cảnh quốc tế và khu vực rất phức tạp, khó lường như hiện nay, sự nổi lên của chủ nghĩa dân tộc, đặc biệt là sự xuất hiện những mưu toan và hành động kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, áp đặt cường quyền trong quan hệ quốc tế,..., công cuộc chủ động mở cửa, hội nhập quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của nhân dân ta càng phải dựa trên nền tảng nâng cao tinh thần tự lực, tự cường, tự quyết định con đường phát triển, tránh giáo điều, đoạn tuyệt với trông chờ hoặc ỷ lại từ bên ngoài. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã đúc kết một bài học, đồng thời là một chân lý của cách mạng Việt Nam: “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại”.

Đó là bài học không ngừng nâng cao tầm trí tuệ, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, bản lĩnh và phẩm chất đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên để Đảng để đủ sức gánh vác nhiệm vụ lớn lao, năng nề của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong Cách mạng Tháng Tám-1945, với số lượng chỉ trên 1.300 đảng viên, một số lượng lớn còn bị giam giữ trong nhà tù đế quốc, song, Đảng có uy tín tuyệt đối trong quần chúng, được nhân dân tin tưởng, chở che, bảo vệ và sẵn sàng theo Đảng làm cách mạng. Mấu chốt để làm được điều đó là Đảng đã xây đường lối cách mạng  giải phóng dân tộc đúng đắn, coi toàn bộ hoạt động của Đảng xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân… Quá trình chuẩn bị Cách mạng Tháng Tám-1945, cũng là quá trình xây dựng một đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần xả thân vì dân tộc, đặt lợi ích của Đảng lên trên lợi ích cá nhân, “ít lòng ham muốn vật chất”, đoàn kết, gắn bó, yêu thương lẫn nhau, nỗ lực học tập, rèn luyện trong phong trào cách mạng của nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, hòa mình trong quần chúng mà dẫn dắt quần chúng tiến lên. Chính vì thế, Đảng đã vượt qua sự khủng bố ác liệt của kẻ thù, thực hiện thành công một cuộc hồi sinh vĩ đại hệ thống tổ chức đảng bị đánh phá, đủ năng lực dẫn dắt nhân dân làm nên Cách mạng Tháng Tám-1945.

Là lực lượng cầm quyền, trong lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng đã nêu cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân và dân tộc, tự đổi mới, tự chỉnh đốn về cả phương diện lý luận, tổ chức và hoạt động thực tiễn. Nhờ không ngừng làm giàu trí tuệ, Đảng đã phát triển nhận thức lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH, không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực tổ chức mà trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường, Đảng lãnh đạo nhân dân tạo nên những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới. Tuy nhiên, công tác xây dựng Đảng cũng bộc lộ nhiều hạn chế, khuyết điểm cả trên lĩnh vực nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn xây dựng Đảng, thể hiện trên các mặt, các nội dung, các khâu công tác; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn thấp, có nơi mất sức chiến đấu; công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên ở một số nơi chưa được quan tâm thường xuyên dẫn đến tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên đã không tiếp nối và giữ gìn được những phẩm chất của người cộng sản, phai nhạt lý tưởng, tha hóa về nhân cách, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, tạo nên nguy cơ lớn đối với vai trò cầm quyền của Đảng…

Trước những đòi hỏi mang tính sống còn về đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ nặng nề của thời kỳ phát triển mới, Đại hội XII (1-2016) của Đảng xác định xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trong đó, tập trung xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh không chỉ về chính trị, tư tưởng, tổ chức mà cả về đạo đức, tích cực đổi mới phương thức lãnh đạo. HNTƯ 4 khóa XII (10-2016) của Đảng đã ra Nghị quyết số 04-NQ/TW về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. NQTƯ 4 khóa XII thể hiện rõ quyết tâm chính trị rất cao, nỗ lực rất lớn và tư tưởng nhất quán của Đảng về tầm quan trọng đặc biệt của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. NQTƯ 4 đi vào cuộc sống đã tạo ra chuyển biến rõ rệt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây cũng chính là sự kế tục và phát triển lên một tầm cao mới bài học thành công về xây dựng Đảng trong Cách mạng Tháng Tám-1945.


GS,TS Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
-------- 

1, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H, 2016, tr. 16, 158

2, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, T. 7, tr. 167, 418. 

Theo hcma.vn

Học viện Báo chí & Tuyên truyền