Thứ bảy 24/06/2017 00:20 Đăng nhập   | Liên hệ  | English English

Những thành tựu của Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sau 30 năm đổi mới và những vấn đề đặt ra

Thứ hai 15/05/2017 08:36

AJC xin trân trọng gửi đến bạn đọc tham luận "Những thành tựu của Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sau 30 năm đổi mới và những vấn đề đặt ra" của PGS, TS Trương Ngọc Nam, Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền tại Hội thảo khoa học quốc tế “Cải cách của các nước Xã hội Chủ nghĩa và Dân tộc hóa Chủ nghĩa Mác” tại Trung Quốc.

NHỮNG THÀNH TỰU CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM SAU 30

NĂM ĐỔI MỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

PGS, TS Trương Ngọc Nam

Giám đốc Học viên Báo chí và Tuyên truyền

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

          Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đánh dấu bằng chặng đường đổi mới 30 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn. Thành quả này có được do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân quyết định chính là ở việc Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam cũng chính là điều kiện để Việt Nam nhanh chóng đi tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

          Việt Nam đã vượt qua được sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội những năm cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước; đạt được thành tựu to lớn suốt 30 năm tiến hành đổi mới. Điều có ý nghĩa còn thể hiện ở chỗ, trong khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên xô sụp đổ, song ở Việt Nam chế độ xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại, hơn nữa Việt Nam thoát ra khỏi khủng hoảng và đạt được thành tựu to lớn. Điều đó có nguyên nhân trực tiếp là việc Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong những hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam, khắc phục bệnh giáo điều, chủ quan duy ý trong việc xác định mô hình và con đường đi lên CNXH.

          Trước hết chúng tôi rút ta bài học khắc phục sai lầm về lý luận trong việc xác định đường lối chiến lược cũng như một số nhiệm vụ cụ thể  xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thời kỳ trước đổi mới (1986).

          Đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng Cộng sản Việt Nam áp dụng trong thời kỳ trước đổi mới mắc phải sai lầm lớn nhất, đó là xác định mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, dựa hoàn toàn trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, không thừa nhận sản xuất hàng hóa và qui luật thị trường. Mô hình kinh tế đó đã tỏ ra hoàn toàn không phù hợp với thời kỳ quá độ lên CNXN ở một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, lại trải qua nhiều cuộc chiến tranh kéo dài. Mặc khác, thích ứng với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung làm cho đất nước khó khăn chồng chất, đời sống nhân dân rất thiếu thốn. Trên tinh tình nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, soi sáng thực tiễn trên tinh thần chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo, đồng thời quan sát công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc cuối những năm 70 để Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đường lối đổi mới cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam đã “chưa thấy hết được những khó khăn phức tạp của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội xuất phát từ một nền sản xuất nhỏ phân tán và lạc hậu, cũng như chưa thấy hết hậu quả của cuộc chiến tranh lâu dài; đã chủ quan nóng vội đưa ra một số chỉ tiêu quá lớn về quy mô, quá cao về tốc độ xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất; trong khi đó lại bảo thủ trì trệ trong việc tìm biện pháp phát huy những thuận lợi và khả năng về lao động, tài nguyên, ngành nghề và cơ sở vật chất kỹ thuật đã có”1.

          Với tư tưởng giáo điều, chủ quan duy ý chí muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, thực hiện xây dựng nền kinh tế với hai thành phần kinh tế cơ bản (thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể) nên nhiều nguồn lực phát triển lại bị triệt tiêu, không có cơ hội được cùng tham gia một cách bình đẳng vào hoạt động của nền sản xuất xã hội, sức sản xuất xã hội được không được giải phóng, sức ỳ của nền sản xuất càng gia tăng, xã hội càng roi vào tình trạng trì trệ kéo dài và dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX.

          Sau Đại hội VI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhìn nhận tỉnh táo sự sụp đỏ của một loạt các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô những năm đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX, kịp thời đưa ra được những nhận định hết sức đúng đắn “Chủ nghĩa xã hội đang đững trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang phải trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến bước tới chủ nghĩa xã hội, vì điều đó là quy luật của tiến hóa lịch sử”2. Trước những khó khăn thử thách, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn “kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”3 ; “quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Việt Nam  khẳng định “ Đổi mới không phải là từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho chủ nghĩa xã hội được nhân thức đúng đắn hơn, được xây dựng có hiệu quả hơn. Đổi mới không phải xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển  chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí  Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng”4.

          Kể từ khi tiến hành đổi mới đến nay, trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động sâu sắc, nhờ kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin nên Việt Nam tiếp tục giành nhiều thắng lợi mới. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định “ Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí  Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí  Minh trong hoạt động của Đảng. Thường xuyên tổng kết thực tiễn ,bổ sung, phát triển lý luận, giải quyết đúng đăn những vấn đề do cuộc sống đặt ra”; phải ra sức “Năng cao trình độ trí tuệ chất lượng nghiên cứu lý luận của Đảng; tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta; làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn đường lối, chính sách của Đảng trong thời kỳ mới” 5;

          Đánh giá tổng thể về những thành tựu của 30 năm tiến hành đổi mới, Đại hội XII chỉ rõ: “Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhâp quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa – xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và  ngày càng mở rộng”. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thông chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên…; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao” (6) . Những thành tự đó ngày càng khẳng định sự đúng đắn trong đường lối xây dựng CNXH, đồng thời cũng khẳng định sự nhận thức và vận dụng sáng tạo Học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng  Việt Nam.

          Những thành tựu 30 năm đổi mới kinh tế và một số vấn đề đặt ra.

          Từ Đại hội lần thứ VI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thẳng thắn tự phê bình về việc đã thực hiện nhiều chủ trương, chính sách sai lầm trong cải tạo xã hội chủ trương, trong xác lập chế độ sở hữu, chế độ phân phối và cơ chế quản lý. Xuất phát từ nhận thức và vận dụng giáo điều, máy móc về quy luật phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, rằng quan hệ sản xuất mới được xác lập sẽ mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Quá trình nhận thức lại, Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng : “Lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất” (7) . Đây là một luận điểm thể hiện tầm tư duy đổi mới sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam để từ đó đưa ra quan điểm mới về nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa phù hợp hơn trong hoàn cảnh mới. Kể từ Đại hội VI, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ. Sau 30 năm đổi mới, bổ sung, phát triển về lý luận về mô hình, con đường đi lên CNXH, Đại hội XII đã khẳng định mô hình kinh tế tổng quát trong thới kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là  “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, “vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu  “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" (8).

          Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn đổi mới nền kinh tế thi trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay:

          Với những thành tựu vô cùng to lớn về kinh tế trong quá trình đổi mới 30 năm qua đã khẳng định đường lối đúng đăn của mô hình kinh tế tổng quát mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định. Đó cũng chính là thành tựu của sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tuy nhiêm, bên cạnh những thành tựu đạt được, nhận thức lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng còn nhiều hạn chế.

          Một là, chưa hình thành được khung lý luận đầy đủ và hệ thống về kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa, nhât là về một số nội dung của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường. Nhận thức chưa rõ về bản chất, đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về vị trí, vai trò và mối quá hệ giữa các chủ thể của kinh tế thị trường.

          Hai là, chưa hình thành được khung khổ đầy đủ về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa  nên chưa tôn trọng đầy đủ và nhất quán những nguyên tắc của kinh tế thị trường trong xây dựng, vận hành và xử lý các vấn đề của nền kinh tế.

          Ba là, thể chế kinh tế thị trường nói chung còn thiếu đồng bộ, nhất quán, điều này gây ra sự cản trở méo mó trong vận hành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Nhận thức chưa đầy đủ và thiếu thống nhất về chế độ sở hữu, về phân định vai trò các thành phần kinh tế. Chưa có tư duy đột phá về chiến lược phát triển công nghiệp, nông nghiệp.

          Bốn là, chưa làm sáng tỏ vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường do chưa phân định rõ chức năng Nhà nước – thị trường. Nhà nước vẫn bao biện nhiều chức năng mà thi trường đảm nhiệm hiệu quả hơn (phân bổ vốn; quản lý doanh nghiệp trong khi chưa chú ý đúng mới đến những chức năng mà Nhà nước phải hoàn thành , xây dựng và thực thi khung khổ quản lý nhà nước “khung khổ hành chính – pháp lý” cung cấp hàng hóa và dịch vụ công, hỗ trợ phát triển…). Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung còn nhiều yếu kém, việc thực hiện chức năng chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước còn bất cập.

          Năm là, chưa có những giải pháp hữu hiệu củng cố và phát triển kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước chưa thực hiện được đầy đủ vai trò chủ đạo, định hướng của nó trong nền kinh tế thị trường.

          Những thành tựu 30 năm đổi mới chính trị và những vấn đề đặt ra

          Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ đơn thuần tập trung đổi mới trong lĩnh vực kinh tế, hay ngược lại chỉ cải tổ chính trị như Liên Xô và các nước Đông Âu. Tổng kết thực tiễn 10 năm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh việc phải “kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị”1 . Đây là bài học vô cùng quý giá đã được chứng minh trong suốt 30 năm đổi mới vừa qua.

          Trong lĩnh vực chính trị, kể từ khi tiến hành đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức rõ hơn một bước bản chất vai trò, cấu trúc, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống chính trị. Sự hình thành và phát triển tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về hệ thống chính trị bắt nguồn từ thực tiễn đổi mới của Việt Nam, trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tinh văn hóa nhân loại. Từ Đại hội VI đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu ra những quan điểm mới, đúng đắn và phù hợp hơn về hệ thống chính trị và đổi mới hệ thống chính trị.

          Về sự phát triển, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong lĩnh vực chính trị thể hiện trước hết trong quan điểm về xây dựng hệ thống chính trị. Phù hợp với thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, kể từ Đại hội III của Đảng (tháng 9 - 1960) cho đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối đổi mới đất nước, hệ thống chính trị ở Việt Nam được tổ chức hoạt động ở các yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ của chuyên chính vô sản và do vậy, tên gọi chính thức của hệ thống này được xác định là “hệ thống chính trị vô sản”. Tuy nhiên bước vào đổi mới, từ Đại hội VI đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu ra những quan điểm mới, đúng đắn, phù hợp hơn về hệ thống chính trị và đổi mới hệ thống chính trị. Theo đó, đến Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI (tháng 3 - 1989) thuật ngữ “Hệ thống chính trị” lần đầu tiên được sử dụng. Từ đó đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bước tiến lớn trong nhận thức về hệ thống chính trị, thể hiện ở 1 số luận điểm sau.

          Trước hết, mục tiêu xây dựng và đổi mới hệ thống chính trị là thực hiên tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa được nhấn mạnh, và đưa đến thực hiện dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

          Tổng kết việc xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa và quá trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức sâu sắc về sự cần thiết phải khai thác những giá trị lý luận Nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại, trong khi đó lại không tiền tệ trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đó. Với yêu cầu đó sau 8 năm tiến hành đổi mới Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (1994) lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” với khẳng định : “Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam. Đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật”.

Có thể thấy với khẳng định việc “Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện” nhà nước pháp quyền Việt Nam , đã chứng tỏ quan điểm để cao vai trò của pháp luật trong quản lý đất nước đã sớm được nêu ra ở các khía cạnh khác nhau từ trước đó. Tiếp đến Đại hội IX đánh dấu bước phát triển rõ rệt quan điểm của Đảng ta về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công rành mạch và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quyền lực Nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Quan điểm này của Đại hội IX đã được thể hiện trong khi sửa đổi một số điều Hiến pháp 1992 (2001) và tiếp tục được khẳng định ở Đại đội X với chủ trương: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đảm bảo nguyên tắc cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân, quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ”. Cương lĩnh (bổ sung phát triên 2011) đã phát triển thêm một bước lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Cụ thể là : “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm  soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Như vậy, trong Cương lĩnh (bổ sung phát triển 2011) Đảng Cộng sản Việt Nam đã bổ sung vấn đề kiếm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Rõ ràng lý luân về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ngày càng được Đảng Cộng sản Việt Nam phát triển cụ thể hơn phát triển cho phù hợp thực tiễn đất nước. Chính từ thực tiễn 30 năm đổi mới chính trị, một lần nữa được Đại đội XII nhấn mạnh : “ Xây dựng hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa  phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn hiệu lực hiệu quả gắn với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội. Hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế vận hành, năng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh việc hoàn thiện và nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước”

          Trong đổi mới chính trị của quá trình đổi mới 30 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhấn mạnh về quan hệ giữa Đảng cầm quyền với Nhà nước làquan hệ đặc biệt giữa chủ thể chủ chốt trong hệ thống chính trị được nhân dân ủy quyền bằng những con đường và phương pháp khác nhau, nhưng đều cùng mục đích là bảo đảm “quyền lực thuộc về nhân dân” để thực hiện được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đảng là chủ thể được nhân dân thừa nhận vai trò lãnh đão Nhà nước và cả xã hội (thông qua Hiến pháp – Điều 4); còn Nhà nước là công cụ của nhân dân, được nhân dân ủy quyền bằng con đường bầu cử và Hiến pháp để thực hiện quyền lực của mình.

          Một số vấn đề đặt ra về lý luận và thực tiễn đối với đổi mới chính trị

          Một là, Nhận thức về hệ thống chính trị về bản chất, chức năng, nhiệm vụ, cấu trúc, tổ chức, cơ chế vận hành hệ thống chính trị, phương thức, cơ chế hoạt động của các thành viên có mặt chưa thật rõ, chưa thống nhất, nhất là trước yêu cầu và trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyên, phát triển thể chế kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Chưa nghiên cứu sâu và làm rõ một cách có hệ thống về đổi mới phương thức lãnh đạo – cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và đối với các thành viên khác của hệ thống chính trị trong mọi cấp độ tổ chức của hệ thống chính trị. Giữa chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của Nhà nước vẫn có sự chồng chéo ở các cấp, trong nhiều lĩnh vực, dẫn đến định hướng đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên còn có những lúng tùng.

          Hai là, Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền còn những bất cấp, chưa đáp ứng được đầy đủ các nguyên tắc cơ bản: Thượng tôn pháp luật; hoạt động thực sự dân chủ; chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…, đã hạn chế việc thực hiện đầy đủ các quyền và điều kiện làm chủ của nhân dân. Nguyên tắc “Đảng lãnh đạo – Nhà nước quản lý – Nhân dân làm chủ” chưa được thể chế hóa cụ thể và rành mạch thành cơ chế đồng bộ để nhân dân thực sự là chủ và làm chủ các quá trình phát triển kinh tế, chính trị - xã hội, làm chủ theo tinh thần “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Còn diễn ra tình trạng lạm quyền, tham quyền, tha hóa quyền lực gây bức xúc trong xã hội. Giữa nhận thức lý luận với các chế định luật pháp, cơ chế chính sách và với việc thực thi trong cuộc sống về các giá trị dân chủ vẫn còn những khoảng cách. Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu đề ra; thủ tục hành chính còn gây phiền hà cho xã hội và công dân. Tình trạng quan liêu, tiêu cực của một bộ máy hành chính làm cho việc dân chủ hóa quản lý các quá trình kinh tế - xã hội và phát huy quyền làm chủ của nhân dân chưa nhanh, nhạy, hiệu quả không cao.

          Ba là, Trong đổi mới chính trị mục tiêu trước hết là thực hiện tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, giữa vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Song quan điểm về dân chủ xã hội chủ nghĩa chưa được nghiên cứu và nhân thức sâu sắc, đầy đủ; có lúc, có noi còn xem nhẹ việc thực hành dân chủ, coi nhẹ vai trò làm chủ của nhân dân; chưa coi trọng đúng mức phát triển các hình thức dân chủ trực tiếp. Dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp còn những biểu hiện thiếu thực chất, chưa phát huy tốt vai trò. Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, một số lĩnh vực còn bị vi phạm, việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức.

          Bốn là, Về bộ ba trong quan hệ giữa hệ thống chính trị với kinh tế và với các tổ chức chính trị xã hội. Thứ nhất, trong mối quan hệ giữa hệ thống chính trị với kinh tế thể hiện giữa đổi mới chính trị và đổi mới kinh tế chưa thật đồng bộ, phù hợp. Thể hiện ở chỗ, một mặt, chưa nắm bắt đầy đủ quy luật của thị trường cũng như yêu cầu và tác động của kinh tế thị trường đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị; mặt khác, chưa thấy hết vai trò thúc đẩy của hệ thống chính trị trong xây dựng và phát triển thể chế kinh tế mới. Thứ hai, về quan hệ giữa hệ thống chính trị với các tổ chức chính trị - xã hội hiện cho thấy, nhận thức về vị trí, vai trò, chức năng của các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị còn những điểm chưa được làm rõ. Trong thực tế, các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động với hai chức năng chủ yếu. Một là, tham gia cùng với Mặt trận Tổ quốc trong hệ thống chính trị thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến “quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, quyền dân chủ của nhân dân”. Hai là, các tổ chức này hoạt động với những nội dung mang tính chất kinh tế - xã hội theo cơ chế tự chủ và tự quản theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, theo điều lệ của từng tổ chức. Việc chưa nhận thức và phân định rõ hai chức năng này đã dẫn đến việc xác định cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động và mối quan hệ với hệ thống cơ quan nhà nước từ trung ương xuống cơ sở còn nhiều điểm chưa phù hợp, cồng kềnh, bị hành chính hóa.

          Kết luận

          Từ những thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của quá trình 30 năm đổi mới, một lần nữa có thể khẳng định, đây là những thành tựu có được từ sự kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam vào thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, mà cốt lõi từ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị làm cơ sở đưa đến thành tựu đổi mới toàn diện đất nước. Thành tựu của sự nghiệp đổi mới đó cũng chính là cơ sở nền tảng để Việt Nam thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong giai đoạn tiếp theo.   

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.13 – 15.

2Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr. 8.

3Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội.

4 Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội, tr.70.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội, tr.131.

Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng TƯ Đảng, Hà Nội, 2016, tr.65-66.

Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.57.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng TƯ Đảng, Hà Nội, 2016, tr.102.)


      

Học viện Báo chí & Tuyên truyền